VÌ SAO THU HỒI TÀI SẢN THAM NHŨNG LUÔN LÀ THÁCH THỨC LỚN?

Giải đáp pháp luật
02/08/2026
8 phút đọc
79 views
Mục lục bài viết
https://open.spotify.com/episode/6wELdOCPJbNlAFnoAToHAQ?si=EtcBwr12T_yWqeOQL5OHhw

I. Thực trạng thu hồi tài sản: Tỷ lệ thu hồi còn thấp so với yêu cầu

Theo các báo cáo thẩm tra và thống kê, tổng số tiền đã thu hồi được trong các vụ án tham nhũng, kinh tế thời gian qua mới đạt khoảng 4.000 tỷ đồng trên tổng số phải thi hành là hơn 72.000 tỷ đồng. Nhiều "đại án" gây thất thoát hàng nghìn tỷ đồng nhưng tỷ lệ thu hồi rất khiêm tốn:

  • Vụ án Huỳnh Thị Huyền Như: Tòa tuyên sung công 9.000 tỷ đồng, nhưng kết quả thu hồi chỉ đạt khoảng 500 tỷ đồng (hơn 5%).
  • Vụ án tẩu tán tài sản ra nước ngoài: Như khoản tiền 3,5 triệu USD của Phan Sào Nam gửi ngân hàng tại Singapore bị cẩu thả/chuyển đi trước khi bản án có hiệu lực, hoặc các khoản tiền tẩu tán sang Nga trong vụ án Dương Chí Dũng. Dù thời gian gần đây đã có những tín hiệu tích cực (như thu hồi hơn 2,6 triệu USD từ Singapore trong vụ Phan Sào Nam), công tác thu hồi tài sản tẩu tán ra nước ngoài vẫn đối mặt với vô vàn rào cản.
a8ac3053-285b-4711-91cb-84e96bb6a588.png

II. Nhận diện nguyên nhân và các "khoảng trống pháp lý" theo văn bản cụ thể

1. Bất cập trong kiểm soát tài sản, thu nhập theo Luật Phòng, chống tham nhũng 2018

  • Quy định về đối tượng kê khai tài sản (Điều 33 Luật PCTN 2018): Cán bộ, công chức chỉ bắt buộc kê khai tài sản, thu nhập của bản thân, vợ hoặc chồng và con chưa thành niên.
    • Hạn chế: Bỏ qua đối tượng con đã thành niên, bố mẹ đẻ, anh chị em ruột hoặc bạn bè. Thực tế điều tra cho thấy nhiều đối tượng tham nhũng đã tẩu tán, nhờ bố mẹ đẻ, con đã thành niên hoặc người thân đứng tên bất động sản, tài sản giá trị lớn (như vụ Trịnh Xuân Thanh, Phạm Sào Nam, Nguyễn Thị Thanh Nhàn).
  • Quy định về công khai bản kê khai (Điều 39 Luật PCTN 2018 & Điều 11 Nghị định 130/2020/NĐ-CP): Việc công khai bản kê khai chủ yếu niêm yết tại trụ sở cơ quan trong 15 ngày hoặc công khai tại cuộc họp nội bộ. Phạm vi hẹp và thời gian ngắn làm giảm hiệu quả giám sát của nhân dân.
  • Thiếu chế tài xử lý tài sản tăng thêm giải trình không hợp lý (Điều 51 Luật PCTN 2018): Mặc dù Luật có quy định xử lý hành vi kê khai không trung thực, nhưng chưa có điều khoản xử lý đối với phần tài sản, thu nhập tăng thêm mà người kê khai không giải trình được nguồn gốc hợp lý.

2. Bất cập trong các biện pháp ngăn chặn của Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015

  • Thời điểm áp dụng kê biên tài sản (Khoản 1 Điều 128 BLTTHS 2015): Biện pháp kê biên tài sản chỉ áp dụng đối với bị can, bị cáo.
    • Hạn chế: Trong các giai đoạn trước đó (thanh tra, kiểm tra, kiểm toán, hoặc đã khởi tố vụ án nhưng chưa khởi tố bị can), cơ quan chức năng không thể áp dụng kê biên. Đây được xem là "quãng thời gian vàng" tạo điều kiện cho người vi phạm tẩu tán, tẩu tán tài sản hoặc chuyển dịch quyền sở hữu sang người khác.
  • Quy mô kê biên tài sản (Khoản 3 Điều 128 BLTTHS 2015): Quy định "chỉ kê biên phần tài sản tương ứng với mức có thể bị phạt tiền, bị tịch thu hoặc phải bồi thường thiệt hại".
    • Hạn chế: Cụm từ "có thể" và "tương ứng" mang tính trừu tượng, gây khó khăn cho cơ quan tiến hành tố tụng trong việc định giá chính xác tài sản tại thời điểm điều tra, dẫn đến tâm lý lo ngại bồi thường nhà nước nếu kê biên vượt quá.

3. Hạn chế trong quy định của Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017)

  • Tịch thu tài sản (Điều 45 BLHS 2015): Chỉ áp dụng đối với người bị kết án về tội phạm nghiêm trọng, rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng xâm phạm an ninh quốc gia, tội phạm về ma túy, tham nhũng.
  • Chính sách khuyến khích giao nộp tài sản: BLHS 2015 đã cho phép chuyển từ án tử hình xuống tù chung thân nếu người bị kết án chủ động khắc phục tối thiểu 3/4 thiệt hại. Tuy nhiên, luật chưa quy định cơ chế cho phép quyết định mức hình phạt dưới mức thấp nhất của khung liền kề khi người phạm tội chủ động khắc phục toàn bộ hậu quả, nên chưa tạo động lực tối đa để đối tượng tự nguyện giao nộp lại tài sản.

4. Bất cập trong pháp luật Thanh tra, Kiểm toán, Thi hành án và Tương trợ tư pháp

  • Luật Thanh tra 2022 & Luật Kiểm toán Nhà nước (sửa đổi 2019): Mặc dù cho phép phong tỏa tài khoản, tạm giữ tiền/tài sản phục vụ việc thanh tra, nhưng thanh tra viên và kiểm toán viên không có thẩm quyền kê biên tài sản của đối tượng khi phát hiện dấu hiệu tham nhũng.
  • Luật Thi hành án dân sự 2008 (sửa đổi 2014): Chưa có quy trình, thủ tục thi hành án đặc thù đối với các khoản thu hồi tài sản tham nhũng, kinh tế mà vẫn áp dụng trình tự dân sự thông thường. Việc xác minh tài sản đồng sở hữu, tài sản đứng tên người khác kéo dài thời gian thi hành án.
  • Luật Tương trợ tư pháp 2007: Thiếu các quy định chi tiết về trình tự, thủ tục, thẩm quyền phối hợp yêu cầu cơ quan nước ngoài phong tỏa, kê biên, tịch thu và chuyển giao tài sản tham nhũng tẩu tán ra nước ngoài.
  • Khoảng trống về quản lý tài sản xã hội: Thiếu Luật Đăng ký tài sản toàn dân và thói quen sử dụng tiền mặt trong các giao dịch giá trị lớn (mua bán bất động sản, xe cộ...) khiến tài sản bất minh dễ dàng bị che giấu ngoài xã hội.

III. Lưu ý quan trọng và Hướng dẫn chi tiết triển khai quy định pháp luật

Để giải quyết triệt để "bài toán khó" này, các cơ quan chức năng cần quán triệt các văn bản chỉ đạo mới của Đảng và định hướng hoàn thiện pháp luật:

1. Áp dụng Quy định 287-QĐ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị

Quy định 287-QĐ/TW quy định chi tiết về việc thu hồi tài sản do tham nhũng, lãng phí, tiêu cực được phát hiện qua công tác kiểm tra, giám sát của Đảng:

  • Căn cứ thu hồi: Căn cứ vào kết luận kiểm tra, giám sát, giải quyết tố cáo của cấp ủy, Ủy ban Kiểm tra (UBKT); kết luận kiểm tra, xác minh tài sản, thu nhập; hoặc việc tổ chức đảng, đảng viên tự giác nộp lại tài sản.
  • Quy trình xử lý dòng tiền: Tiền thu hồi trong quá trình kiểm tra, giám sát được nộp vào tài khoản tạm giữ tại Kho bạc Nhà nước của Cơ quan UBKT Trung ương hoặc UBKT tỉnh/thành ủy. Các tài sản khác được thống kê, bàn giao cho cơ quan có thẩm quyền.
  • Trách nhiệm phối hợp: Tổ chức đảng, đảng viên vi phạm có trách nhiệm cung cấp đầy đủ thông tin, hồ sơ tài sản của bản thân, người thân trong gia đình và những người liên quan trực tiếp đến tài sản tham nhũng.

2. Thể chế hóa Chỉ thị số 04-CT/TW ngày 02/06/2021 của Ban Bí thư

Chỉ thị 04-CT/TW đặt ra yêu cầu mang tính đột phá về thu hồi tài sản:

  • Xây dựng cơ chế thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội (Non-conviction based - NCB): Cho phép tịch thu, thu hồi tài sản bị nghi ngờ có nguồn gốc từ tham nhũng mà không nhất thiết phải chờ bản án kết tội hình sự (đặc biệt trong trường hợp đối tượng bỏ trốn, đã chết hoặc vắng mặt).
  • Áp dụng biện pháp ngăn chặn sớm: Cho phép áp dụng ngay các biện pháp tạm ngừng giao dịch, phong tỏa tài khoản, kê biên tài sản ngay từ giai đoạn giải quyết nguồn tin tố giác tội phạm, thanh tra, kiểm toán.

3. Khuyến nghị và hướng dẫn hoàn thiện đồng bộ hệ thống pháp luật

  • Luật Phòng, chống tham nhũng: Cần mở rộng phạm vi kê khai tài sản đối với con đã thành niên và bố, mẹ đẻ của người có chức vụ, quyền hạn. Bổ sung cơ chế xử lý, tịch thu tài sản tăng thêm không giải trình được nguồn gốc hợp lý.
  • Bộ luật Tố tụng Hình sự: Sửa đổi Điều 128 theo hướng quy định linh hoạt thời điểm kê biên; ban hành hướng dẫn chi tiết về khung sai số cho phép khi xác định "tài sản kê biên tương ứng" để tạo sự chủ động cho cơ quan điều tra.
  • Xây dựng Luật Đăng ký tài sản & Hạn chế tiền mặt: Minh bạch hóa dòng tiền giao dịch mua bán tài sản lớn qua ngân hàng và quản lý tài sản toàn xã hội để tránh tình trạng đứng tên giùm.
  • Tương trợ tư pháp & Hợp tác quốc tế: Hoàn thiện Luật Tương trợ tư pháp; tích cực ký kết các Hiệp định tương trợ tư pháp song phương về hình sự để chủ động truy tìm, phong tỏa tài sản tẩu tán ở nước ngoài.

    Thu hồi tài sản tham nhũng không chỉ dừng lại ở xử lý hình sự đối với con người mà mấu chốt là phải tận thu triệt để tài sản bất minh về cho Nhà nước và nhân dân. Việc kết hợp giữa Quy định 287-QĐ/TW, Chỉ thị 04-CT/TW và hoàn thiện các đạo luật chuyên ngành sẽ là chìa khóa tháo gỡ các vướng mắc hiện nay.

Nếu cần hỗ trợ tư vấn pháp lý và thực hiện các thủ tục liên quan về các tranh chấp Dân sự. Quý khách hàng vui lòng liên hệ Luật Nam Sơn LST hoặc Luật sư Nguyễn Thành Trung (Ls Trung) thông qua đội ngũ hỗ trợ:       

1. Thư ký Tình: 0985 536 299           

2. Trợ lý Hoàng: 0965 455 832       

3. Trợ lý Hồng Anh: 0966 651 840      

4. Thư ký Nguyệt Hà: 0386 912 828       

5. Thư ký Hồng Hà: 0933 340 866      

📱 Fanpage: NAM SƠN LST Law Firm      

📌 Lưu ý: Vui lòng liên hệ qua điện thoại để được hỗ trợ nhanh chóng (không tiếp nhận tư vấn qua Messenger).     

Nam Sơn LST Law Firm Banner - Minimalist with Lawyer Image (2)-5
LOGO LST FINAL-01-1