MỘT NGƯỜI TỰ Ý BÁN TÀI SẢN THỪA KẾ: NHỮNG NGƯỜI CÒN LẠI CÓ QUYỀN ĐÒI LẠI?

Giải đáp pháp luật
28/08/2026
8 phút đọc
57 views
Mục lục bài viết

I. BẢN CHẤT PHÁP LÝ CỦA DI SẢN THỪA KẾ CHƯA CHIA

Để xác định một người có quyền tự ý bán tài sản thừa kế hay không, trước hết cần làm rõ trạng thái pháp lý của di sản đó kể từ thời điểm người để lại di sản qua đời.

1. Di sản thừa kế là gì?

Căn cứ Điều 612 Bộ luật Dân sự 2015, di sản được định nghĩa như sau:

"Di sản bao gồm tài sản riêng của người chết, phần tài sản của người chết trong tài sản chung với người khác."

Di sản này có thể tồn tại dưới nhiều dạng hình thức khác nhau từ bất động sản (nhà ở, quyền sử dụng đất...) đến động sản phải đăng ký quyền sở hữu (xe máy, ô tô...) hoặc không phải đăng ký sở hữu (tiền, vàng bạc, trang sức...).

2. Thời điểm phát sinh quyền của người thừa kế

Căn cứ Điều 614 Bộ luật Dân sự 2015:

"Kể từ thời điểm mở thừa kế, những người thừa kế có các quyền, nghĩa vụ tài sản do người chết để lại."

Đồng thời, theo Điều 651 Bộ luật Dân sự 2015, những người thừa kế cùng hàng thừa kế có quyền được hưởng phần di sản ngang nhau.

3. Di sản chưa chia là khối tài sản chung hợp nhất

Khi người để lại di sản chết và di sản chưa được phân chia hợp pháp theo di chúc hoặc theo pháp luật, khối di sản này được xác định là tài sản chung hợp nhất của tất cả các đồng thừa kế.

Về nguyên tắc quản lý và định đoạt tài sản chung, Điều 218 Bộ luật Dân sự 2015 quy định rõ:

"2. Việc định đoạt tài sản chung hợp nhất được thực hiện theo thỏa thuận của các chủ sở hữu chung hoặc theo quy định của pháp luật."

Như vậy, khi chưa có sự thỏa thuận, nhất trí bằng văn bản của tất cả các đồng thừa kế, không một cá nhân nào có quyền tự ý chuyển nhượng, mua bán hay định đoạt khối di sản này. Mọi hành vi tự ý định đoạt đều cấu thành hành vi xâm phạm nghiêm trọng đến quyền sở hữu và quyền thừa kế hợp pháp của các chủ thể khác.

II. HIỆU LỰC PHÁP LÝ CỦA GIAO DỊCH TỰ Ý BÁN DI SẢN THỪA KẾ

Khi một người tự ý bán tài sản thừa kế mà không có sự đồng ý của những người thừa kế khác, giao dịch mua bán này sẽ bị xem xét về mặt hiệu lực theo quy định pháp luật.

1. Các điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự bị vi phạm

Theo Điều 117 Bộ luật Dân sự 2015, một giao dịch dân sự chỉ có hiệu lực khi đáp ứng đầy đủ các điều kiện bao gồm: chủ thể có năng lực hành vi dân sự phù hợp; hoàn toàn tự nguyện; mục đích và nội dung không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội; và tuân thủ quy định về hình thức nếu luật có yêu cầu.

Căn cứ Điều 122Điều 123 Bộ luật Dân sự 2015:

  • Giao dịch dân sự không đáp ứng một trong các điều kiện quy định tại Điều 117 thì vô hiệu.

  • Giao dịch có mục đích, nội dung vi phạm điều cấm của luật hoặc trái đạo đức xã hội thì vô hiệu.

Việc tự ý bán tài sản thuộc sở hữu chung của người khác mà không được họ đồng ý/ủy quyền là hành vi vi phạm điều cấm của luật (xâm phạm quyền sở hữu hợp pháp của người khác). Do đó, hợp đồng chuyển nhượng/mua bán này bị xác định là vô hiệu.

2. Vô hiệu toàn bộ hay vô hiệu từng phần?

Trong thực tế xét xử của Tòa án, hiệu lực của hợp đồng tự ý định đoạt tài sản chung sau khi có người chết (ví dụ: một bên vợ/chồng chết hoặc một trong các đồng thừa kế tự ý bán) được phân định thành hai trường hợp căn cứ vào Điều 130 Bộ luật Dân sự 2015 về Giao dịch dân sự vô hiệu từng phần:

  • Tuyên vô hiệu toàn bộ hợp đồng: Áp dụng đối với di sản là vật không thể phân chia (như một căn nhà độc lập, một chiếc xe ô tô). Nếu tuyên vô hiệu một phần sẽ làm ảnh hưởng đến tính năng sử dụng và làm mất giá trị của tài sản, nên Tòa án buộc phải tuyên vô hiệu toàn bộ giao dịch.

  • Tuyên vô hiệu một phần hợp đồng: Áp dụng đối với tài sản có thể chia tách được (như một thửa đất diện tích lớn). Theo hướng dẫn từ thực tiễn xét xử của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao (như tại Quyết định giám đốc thẩm số 66/DS-GĐT): 

    • Tòa án sẽ xác định phần quyền định đoạt hợp pháp của người bán trong khối tài sản chung (gồm phần tài sản riêng của họ cộng với kỷ phần thừa kế mà họ được hưởng hợp pháp).

    • Nếu phần tài sản đã bán nằm trong phạm vi giá trị quyền sở hữu hợp pháp của người bán thì phần hợp đồng đó được công nhận hiệu lực.

    • Tòa án chỉ tuyên vô hiệu một phần đối với phần diện tích đất vượt quá quyền định đoạt của người bán nhằm bảo vệ kỷ phần thừa kế của các đồng thừa kế khác.

III. ĐỒNG THỪA KẾ CÒN LẠI CÓ QUYỀN ĐÒI LẠI TÀI SẢN KHÔNG? RÀO CẢN TỪ "NGƯỜI THỨ BA NGAY TÌNH"

Pháp luật Việt Nam ghi nhận quyền đòi lại tài sản của chủ sở hữu hợp pháp, nhưng đồng thời cũng thiết lập cơ chế bảo vệ người thứ ba ngay tình (người mua tài sản mà không biết tài sản đó có tranh chấp). Do đó, việc có đòi lại được tài sản bằng hiện vật (nhà, đất, xe...) hay không phụ thuộc lớn vào việc tài sản đó đã được sang tên hợp pháp hay chưa.

1. Trường hợp hoàn toàn có quyền đòi lại tài sản (Tuyên hợp đồng vô hiệu)

Các đồng thừa kế hoàn toàn có quyền đòi lại tài sản bằng hiện vật từ người mua nếu thuộc một trong các trường hợp sau:

  • Giao dịch mua bán giữa người tự ý bán và người mua mới dừng lại ở việc ký hợp đồng (dù có công chứng) nhưng chưa hoàn tất thủ tục đăng ký biến động (chưa sang tên Sổ đỏ) tại cơ quan tài nguyên và môi trường.

  • Tài sản là di sản thừa kế nhưng trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cũ ghi rõ thông tin: "Là người đại diện của những người được thừa kế quyền sử dụng đất. Lúc này, người mua buộc phải biết người bán chỉ là người đại diện quản lý chứ không có quyền tự quyết. Giao dịch này đương nhiên bị tuyên vô hiệu và các đồng thừa kế có quyền đòi lại đất.

  • Người mua không ngay tình: Biết rõ tài sản là di sản thừa kế chưa chia, đang có tranh chấp giữa các anh chị em nhưng vẫn cố tình mua.

2e60830d-040c-441a-9ac8-fb6948e244fb.png

2. Trường hợp KHÔNG THỂ đòi lại tài sản bằng hiện vật (Bảo vệ người thứ ba ngay tình)

Đây là rủi ro pháp lý rất lớn đối với các đồng thừa kế còn lại. Căn cứ vào Khoản 2 Điều 133 Bộ luật Dân sự 2015:

"Trường hợp giao dịch dân sự vô hiệu nhưng tài sản đã được đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền, sau đó được chuyển giao bằng một giao dịch dân sự khác cho người thứ ba ngay tình và người này căn cứ vào việc đăng ký đó mà xác lập, thực hiện giao dịch thì giao dịch đó không bị vô hiệu."

  • Tình huống thực tế: Người em được cả nhà ủy quyền đứng tên trên Sổ đỏ để thuận tiện làm giấy tờ. Cơ quan nhà nước cấp Sổ đỏ mới đứng tên riêng một mình người em này (không ghi chú tư cách đại diện thừa kế). Sau đó người em tự ý ký hợp đồng bán đất cho người mua. Người mua hoàn toàn tin tưởng vào Sổ đỏ hợp pháp, đã thanh toán tiền và được cơ quan nhà nước sang tên Sổ đỏ mới.

  • Hậu quả pháp lý: Giao dịch với người mua trong trường hợp này không bị vô hiệu và pháp luật bảo vệ quyền sở hữu của họ. Các đồng thừa kế còn lại không thể đòi lại nhà đất này bằng hiện vật.

  • Phương án giải quyết: Theo Khoản 3 Điều 133 Bộ luật Dân sự 2015, các đồng thừa kế còn lại có quyền khởi kiện yêu cầu người thừa kế có lỗi (người tự ý bán) phải hoàn trả toàn bộ giá trị kỷ phần thừa kế tương ứng bằng tiền và bồi thường thiệt hại (nếu có).

IV. LƯU Ý QUAN TRỌNG VỀ THỜI HIỆU THỪA KẾ

Khi tiến hành đòi lại quyền lợi thừa kế, các đồng thừa kế cần đặc biệt lưu ý đến thời hiệu khởi kiện quy định tại Điều 623 Bộ luật Dân sự 2015 để tránh việc bị mất quyền yêu cầu chia di sản:

  • Thời hiệu yêu cầu chia di sản: 30 năm đối với bất động sản; 10 năm đối với động sản, tính từ thời điểm mở thừa kế (người để lại tài sản chết). Hết thời hạn này, di sản thuộc về người thừa kế đang quản lý di sản đó.

  • Thời hiệu yêu cầu tuyên bố giao dịch vô hiệu: 

    • Đối với giao dịch vô hiệu do vi phạm điều cấm của luật, giả tạo (Điều 123, 124): Không bị hạn chế về thời gian.

    • Đối với giao dịch vô hiệu do nhầm lẫn, lừa dối, đe dọa, hình thức (Điều 125 đến 129): Thời hiệu là 02 năm kể từ ngày biết hoặc phải biết về hành vi vi phạm.

V. HƯỚNG DẪN CHI TIẾT THỦ TỤC KHỞI KIỆN ĐÒI LẠI DI SẢN

Để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, các đồng thừa kế bị xâm phạm cần thực hiện theo các bước thủ tục tố tụng sau đây:

Bước 1: Chuẩn bị hồ sơ khởi kiện

Người khởi kiện cần chuẩn bị đầy đủ các văn bản, chứng cứ bao gồm:

  1. Đơn khởi kiện: Ghi rõ nội dung yêu cầu (yêu cầu tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng vô hiệu; yêu cầu đòi lại tài sản hoặc bồi thường thiệt hại theo kỷ phần thừa kế).

  2. Giấy tờ chứng minh quan hệ thừa kế: Giấy chứng tử của người để lại di sản thừa kế, Giấy khai sinh của các đồng thừa kế, Sổ hộ khẩu cũ hoặc căn cước công dân.

  3. Giấy tờ chứng minh quyền sở hữu hợp pháp của người chết đối với di sản: Sổ đỏ, Sổ hồng, đăng ký xe....

  4. Chứng cứ chứng minh hành vi tự ý chuyển nhượng bất hợp pháp: Hợp đồng mua bán, chuyển nhượng do người tự ý bán xác lập; Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã bị sang tên trái phép; biên bản làm việc gia đình....

Bước 2: Nộp đơn khởi kiện đến Tòa án có thẩm quyền

  • Thẩm quyền của Tòa án: Theo quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự, nếu tài sản tranh chấp là bất động sản (nhà đất), đơn khởi kiện phải nộp tại Tòa án nhân dân nơi có bất động sản đó. Nếu di sản là động sản, có thể nộp tại Tòa án nơi bị đơn (người bán) cư trú.

Bước 3: Tòa án thụ lý và giải quyết vụ án

Tòa án kiểm tra hồ sơ, nếu hợp lệ sẽ thông báo nộp tạm ứng án phí. Sau khi người khởi kiện nộp biên lai thu tiền tạm ứng án phí, Tòa án sẽ chính thức thụ lý vụ án, thực hiện các bước hòa giải, thẩm định giá tài sản, lấy lời khai và mở phiên tòa xét xử sơ thẩm.

VI. LỜI KHUYÊN TỪ CHUYÊN GIA

Để ngăn ngừa tối đa các tranh chấp gia đình và bảo vệ quyền sở hữu đối với khối di sản thừa kế, các chuyên gia pháp lý đưa ra các khuyến nghị thiết thực sau:

  1. Thực hiện khai nhận di sản thừa kế càng sớm càng tốt: Ngay sau khi người để lại di sản qua đời, các đồng thừa kế nên chủ động liên hệ văn phòng công chứng hoặc UBND cấp xã để thực hiện thủ tục khai nhận di sản thừa kế hoặc thỏa thuận phân chia di sản. Không nên để tài sản ở tình trạng "vô chủ" hoặc chưa chia quá lâu, dễ tạo sơ hở cho việc tẩu tán tài sản.

  2. Cực kỳ thận trọng khi lập Văn bản ủy quyền: Trong nhiều gia đình, vì tin tưởng nhau hoặc vì điều kiện ở xa, các đồng thừa kế thường ký giấy ủy quyền cho một người đứng tên thực hiện thủ tục hành chính. 

    • Lưu ý: Cần phân biệt rõ giữa Văn bản ủy quyền làm thủ tục sang tên (quyền sở hữu vẫn thuộc khối thừa kế chung) và Văn bản thỏa thuận phân chia di sản (nhượng quyền hoàn toàn cho một người đứng tên sở hữu riêng).

    • Lời khuyên: Trong Hợp đồng ủy quyền được công chứng, phải ghi rõ phạm vi ủy quyền: "Chỉ ủy quyền thay mặt thực hiện các thủ tục kê khai, hợp thức hóa giấy tờ nhà đất; tuyệt đối không có quyền định đoạt (bán, tặng cho, thế chấp, góp vốn...)".

  3. Kiểm tra kỹ thông tin trên Giấy chứng nhận được cấp: Khi cử người đại diện đứng tên trên Giấy chứng nhận trong thời gian chưa chia di sản, phải yêu cầu cơ quan nhà nước ghi rõ dòng chữ: “Là người đại diện của những người được thừa kế quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất” theo đúng quy định. Điều này ngăn chặn hoàn toàn việc người đại diện tự ý thực hiện giao dịch chuyển nhượng một mình.

  4. Lời khuyên đối với người mua tài sản: Để tránh rủi ro mua phải tài sản tranh chấp dẫn đến hợp đồng bị vô hiệu: Trước khi ký hợp đồng mua bán nhà đất có nguồn gốc là di sản thừa kế, người mua cần yêu cầu bên bán cung cấp văn bản khai nhận di sản thừa kế hợp pháp và yêu cầu tất cả các đồng thừa kế cùng ký tên vào hợp đồng chuyển nhượng.

Nếu cần hỗ trợ tư vấn pháp lý và thực hiện các thủ tục liên quan về các tranh chấp Dân sự. Quý khách hàng vui lòng liên hệ Luật Nam Sơn LST hoặc Luật sư Nguyễn Thành Trung (Ls Trung) thông qua đội ngũ hỗ trợ:       

1. Thư ký Tình: 0985 536 299           

2. Trợ lý Hoàng: 0965 455 832       

3. Trợ lý Hồng Anh: 0966 651 840      

4. Thư ký Nguyệt Hà: 0386 912 828       

5. Thư ký Hồng Hà: 0933 340 866      

📱 Fanpage: NAM SƠN LST Law Firm      

📌 Lưu ý: Vui lòng liên hệ qua điện thoại để được hỗ trợ nhanh chóng (không tiếp nhận tư vấn qua Messenger).     

Nam Sơn LST Law Firm Banner - Minimalist with Lawyer Image (2)-5
LOGO LST FINAL-01-1