I. QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN ĐỊNH ĐOẠT TÀI SẢN CỦA CHA MẸ
Theo pháp luật dân sự hiện hành, quyền sở hữu tài sản luôn gắn liền với quyền định đoạt của cá nhân.
Văn bản pháp luật áp dụng:Bộ luật Dân sự 2015
Quyền của người lập di chúc (cha mẹ): Căn cứ Điều 625 và Điều 626 Bộ luật Dân sự 2015, cha mẹ khi có đầy đủ năng lực hành vi dân sự hoàn toàn có quyền lập di chúc để định đoạt tài sản thuộc sở hữu hợp pháp của mình sau khi qua đời. Quyền này bao gồm:
Chỉ định người thừa kế; truất quyền hưởng di sản của người thừa kế (bao gồm cả con ruột).
Phân định phần di sản cho từng người thừa kế.
Dành một phần tài sản trong khối di sản để di tặng, thờ cúng.
Giao nghĩa vụ cho người thừa kế.
Chỉ định người giữ di chúc, người quản lý di sản, người phân chia di sản.
Quyền định đoạt tài sản: Di sản thừa kế của cha mẹ bao gồm tài sản riêng và phần tài sản của họ trong tài sản chung với người khác (Điều 612). Do đó, cha mẹ có toàn quyền chuyển giao quyền sở hữu tài sản này cho bất kỳ ai (bao gồm cả người ngoài) thông qua di chúc hợp pháp mà không bắt buộc phải chia cho con đẻ.
Pháp luật Việt Nam công nhận hai hình thức thừa kế chính là thừa kế theo di chúc và thừa kế theo pháp luật, trong đó thừa kế theo di chúc được ưu tiên áp dụng hàng đầu. Thừa kế theo pháp luật chỉ áp dụng trong các trường hợp không có di chúc, di chúc không hợp pháp, người thừa kế theo di chúc chết trước hoặc từ chối nhận di sản.
Vì vậy, về mặt nguyên tắc, cha mẹ hoàn toàn có quyền để lại toàn bộ tài sản cho người ngoài và con ruột hoàn toàn có thể bị mất quyền thừa kế theo ý chí của cha mẹ.
II. CÁC TRƯỜNG HỢP CON RUỘT KHÔNG ĐƯỢC HƯỞNG DI SẢN THỪA KẾ
Dựa theo quy định của Bộ luật Dân sự 2015, có những trường hợp cụ thể sau đây khiến con ruột không được hưởng thừa kế nhà, đất hay tài sản khác từ cha mẹ:
Con ruột không có tên trong di chúc: Trong trường hợp cha mẹ lập di chúc để lại toàn bộ tài sản cho người ngoài mà di chúc đó hoàn toàn hợp pháp và không đề cập gì đến người con ruột thì người con đó (nếu đã thành niên và có khả năng lao động) sẽ không được hưởng bất kỳ tài sản nào.
Bị truất quyền thừa kế: Cha mẹ chủ động sử dụng quyền của người lập di chúc tại Điều 626 để ghi rõ trong di chúc về việc truất quyền hưởng di sản của người con ruột đó.
Con ruột không còn sống hoặc chưa thành thai (Điều 613): Người thừa kế là cá nhân phải là người còn sống vào thời điểm mở thừa kế hoặc sinh ra và còn sống sau thời điểm mở thừa kế nhưng đã thành thai trước khi người để lại di sản chết. Nếu người con đã qua đời trước hoặc cùng thời điểm với cha mẹ, hoặc chưa thành thai tại thời điểm cha mẹ mất thì không được hưởng di sản.
Con ruột bị tước quyền thừa kế (Điều 621): Người con thuộc một trong các trường hợp nghiêm trọng vi phạm pháp luật đối với cha mẹ sau đây sẽ bị tước quyền hưởng di sản:
Bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe hoặc về hành vi ngược đãi nghiêm trọng, hành hạ cha mẹ; xâm phạm nghiêm trọng danh dự, nhân phẩm của cha mẹ.
Vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ nuôi dưỡng cha mẹ.
Bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng người thừa kế khác nhằm chiếm đoạt một phần hoặc toàn bộ phần di sản của người đó.
Có hành vi lừa dối, cưỡng ép hoặc ngăn cản cha mẹ trong việc lập di chúc; giả mạo di chúc, sửa chữa di chúc, hủy di chúc, che giấu di chúc nhằm hưởng di sản trái với ý chí của cha mẹ. (Ngoại trừ trường hợp cha mẹ dù đã biết rõ hành vi của con nhưng vẫn tự nguyện cho con hưởng di sản theo di chúc).
Tự nguyện từ chối nhận di sản (Điều 620): Con ruột chủ động lập văn bản từ chối nhận di sản thừa kế trước thời điểm phân chia di sản, và việc từ chối này không nhằm trốn tránh thực hiện nghĩa vụ tài sản đối với người khác.
III. NGOẠI LỆ QUAN TRỌNG: TRƯỜNG HỢP VẪN ĐƯỢC HƯỞNG DI SẢN DÙ KHÔNG CÓ TÊN TRONG DI CHÚC
Quyền tự do định đoạt tài sản của cha mẹ không phải là tuyệt đối mà vẫn chịu sự giới hạn nhất định nhằm bảo vệ các chủ thể yếu thế trong gia đình.
Để đảm bảo cuộc sống cho những người thân thiết nhất của người quá cố, Điều 644 Bộ luật Dân sự 2015 quy định về người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc.
1. Nội dung điều khoản (Khoản 1 Điều 644):
"Những người sau đây vẫn được hưởng phần di sản bằng hai phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật nếu di sản được chia theo pháp luật, trong trường hợp họ không được người lập di chúc cho hưởng di sản hoặc chỉ cho hưởng phần di sản ít hơn hai phần ba suất đó: a) Con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng; b) Con thành niên mà không có khả năng lao động."
2. Đối tượng con ruột được bảo vệ:
Căn cứ vào quy định trên, dù cha mẹ có lập di chúc truất quyền hoặc để hết tài sản cho người ngoài, người con ruột vẫn đương nhiên được hưởng phần di sản bắt buộc nếu thuộc một trong hai nhóm sau:
Con chưa thành niên (dưới 18 tuổi).
Con đã thành niên nhưng không có khả năng lao động.
3. Trường hợp loại trừ (Khoản 2 Điều 644):
Quyền lợi bắt buộc này sẽ không áp dụng đối với những người con đã từ chối nhận di sản theo Điều 620 hoặc là những người bị tước quyền hưởng di sản do có hành vi vi phạm nghiêm trọng đối với cha mẹ theo quy định tại khoản 1 Điều 621.

IV. HƯỚNG DẪN CHI TIẾT CÁCH TÍNH SUẤT THỪA KẾ BẮT BUỘC (2/3 SUẤT)
Để xác định chính xác phần tài sản mà người con thuộc diện Điều 644 được nhận, pháp luật đưa ra công thức tính toán dựa trên giả định chia thừa kế theo pháp luật:
Di sản được hưởng = 2/3 × (Tổng giá trị di sản thực tế ÷ Số người hưởng di sản hợp pháp theo pháp luật)
Các bước tính toán chi tiết:
Bước 1: Xác định tổng giá trị di sản thực tế Là toàn bộ giá trị khối di sản mà cha mẹ để lại sau khi đã thanh toán đầy đủ các khoản chi phí liên quan đến thừa kế theo thứ tự ưu tiên quy định tại Điều 658 Bộ luật Dân sự 2015 (chi phí mai táng, tiền nợ, tiền cấp dưỡng còn thiếu, chi phí bảo quản di sản, tiền trợ cấp...).
Bước 2: Xác định số người hưởng di sản hợp pháp (Hàng thừa kế thứ nhất) Giả định nếu không có di chúc, di sản sẽ được chia đều cho những người ở hàng thừa kế thứ nhất còn sống tại thời điểm mở thừa kế, bao gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết (Điều 651). (Lưu ý: Không tính những người từ chối nhận di sản hoặc người không có quyền hưởng di sản theo Khoản 2 Điều 644).
Bước 3: Tính toán suất thừa kế pháp luật giả định Lấy tổng giá trị di sản thực tế chia đều cho số người thuộc hàng thừa kế thứ nhất đã xác định ở Bước 2.
Bước 4: Tính suất bắt buộc (2/3 suất) Nhân suất thừa kế pháp luật giả định vừa tính được với tỷ lệ 2/3 để ra phần di sản thực tế người con yếu thế được nhận.
V. LỜI KHUYÊN TỪ CHUYÊN GIA
Lập di chúc bằng văn bản có công chứng, chứng thực: Bản di chúc được công chứng tại văn phòng công chứng hoặc chứng thực tại UBND cấp xã sẽ đảm bảo tối đa tính pháp lý về mặt hình thức và nội dung, tránh bị Tòa án tuyên vô hiệu khi tranh chấp xảy ra.
Thể hiện rõ ràng và dứt khoát ý chí trong di chúc: Người lập di chúc nên nêu rõ ràng việc không để lại tài sản cho con đẻ cụ thể nào hoặc ghi rõ lý do truất quyền để tránh việc nội dung di chúc bị hiểu nhầm hoặc không rõ nghĩa.
Phân định rạch ròi giữa tài sản riêng và tài sản chung: Cha mẹ cần làm rõ đâu là tài sản riêng của bản thân, đâu là tài sản chung vợ chồng trước khi định đoạt trong di chúc. Tránh tình trạng định đoạt luôn cả phần tài sản của người khác, dẫn đến di chúc bị vô hiệu một phần.
Chuẩn bị hồ sơ y tế chứng minh năng lực hành vi dân sự: Thực tế, các vụ tranh chấp thừa kế thường xoay quanh việc con cái cho rằng cha mẹ già yếu, bị bệnh hoặc bị tác động nên không minh mẫn khi ký di chúc. Do đó, cha mẹ nên chuẩn bị sẵn hồ sơ y tế khám sức khỏe tâm thần tại ngày lập di chúc, hoặc lập di chúc trước sự chứng kiến của các nhân chứng độc lập.
Nếu cần hỗ trợ tư vấn pháp lý và thực hiện các thủ tục liên quan về các tranh chấp Dân sự. Quý khách hàng vui lòng liên hệ Luật Nam Sơn LST hoặc Luật sư Nguyễn Thành Trung (Ls Trung) thông qua đội ngũ hỗ trợ:
1. Thư ký Tình: 0985 536 299
2. Trợ lý Hoàng: 0965 455 832
3. Trợ lý Hồng Anh: 0966 651 840
4. Thư ký Nguyệt Hà: 0386 912 828
5. Thư ký Hồng Hà: 0933 340 866
📱 Fanpage: NAM SƠN LST Law Firm
📌 Lưu ý: Vui lòng liên hệ qua điện thoại để được hỗ trợ nhanh chóng (không tiếp nhận tư vấn qua Messenger).

